Các khái niệm cốt lõi của marketing phần 1

Các khái niệm cốt lõi của marketing phần 1

(Trích từ chương Tổng quan của sách Marketing hiện đại – Lý thuyết và tình huống ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, nhà xuất bản Tài Chính, năm 2015. Chúng tôi đăng tuần tự toàn chương Tổng quan thành nhiều kỳ để bạn đọc nắm được bức tranh toàn cảnh cũng như toàn bộ nội dung môn học marketing căn bản hay Nguyên lý marketing này sẽ được triển khai như thế nào.)

Trước khi đi sâu tìm hiểu quy trình marketing gồm những bước nào, chúng ta cần hiểu rõ một số thuật ngữ cốt lõi. Nắm vững các khái niệm nền tảng : nhu cầu, mong muốn, số cầu, sản phẩm, trao đổi, giá trị cảm nhận của khách hàng, thị trường,… là bước chuẩn bị để ta thực hiện quy trình marketing trong thực tế.

III. Các khái niệm cốt lõi của marketing

Nhu cầu (Needs) :

Nhu cầutự nhiên là trạng thái cảm giác thiếu thốn một cái gì đó mà con người cảm nhận được và cần được thỏa mãn trong tâm thức. Là sự khác biệt giữa tình trạng hiện thực và tình trạng đang ước muốn. Nhu cầu của con người rất đa dạng và phức tạp. Theo Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người có năm loại : từ những yêu cầu sinh lý thiết yếu của con người để họ có thể sống như ăn uống, nghỉ ngơi, tắm giặt,… tới những nhu cầu về an toàn tính mạng, những nhu cầu về tinh thần và xã hội, thậm chí cao hơn cả là những nhu cầu về tri thức và tự thể hiện mình.

Khi nhu cầu không được thỏa mãn, người ta sẽ thấy khó chịu, thậm chí khổ sở và bất hạnh. Người ta thường có hai xu hướng giải quyết các nhu cầu như sau :

Tìm cách giải quyết : Ví dụ một người A đang đi trên đường và cảm thấy khô họng, anh ta sẽ có nhu cầu được uống nước và tìm cách kiếm nước uống cho đã khát.

Giảm mức độ nhu cầu hiện tại : Ví dụ người A trong một số trường hợp bất khả kháng (như bị rơi vào sa mạc, chẳng tìm đâu ra nước), với bản năng sinh tồn, anh ta sẽ cố gắng kiềm chế cơn khát.

Trong điều kiện xã hội phát triển, con người trong xã hội đó có nhiều khả năng tìm kiếm, cũng như phát triển những cách thức giúp họ giải quyết nhu cầu hiện tại. Với những xã hội kém phát triển hơn, thì con người sẽ tự hạn chế nhu cầu của mình, và tự hài lòng với những gì trong khả năng cho phép.

Nhu cầu là khái niệm nền tảng của marketing. Tư tưởng chủ đạo của marketing là “tìm ra nhu cầu và đáp ứng”. Theo quan điểm truyền thống, nhu cầu tự nhiên là vốn có đối với con người : không ai tạo ra nhu cầu, nhu cầu tự sinh và là một phần bản năng con người; xã hội và các nhà marketing không tạo ra nhu cầu, mà chỉ là người khám phá và kích thích nhu cầu. Đến lượt các nhà sản xuất, họ có nhiệm vụ cung cấp những sản phẩm hoặc dịch vụ để giải quyết nhu cầu đó. Ví dụ như : Phở 24 đã phát hiện ra sự thay đổi trong nhu cầu của người ăn phở nên đã tổ chức để đáp ứng những nhu cầu mới này, qua đó sở hữu một thương hiệu mạnh trong thị trường ẩm thực tiện lợi. Nếu có nhu cầu ăn phở tiện nghi, vệ sinh và dễ tìm kiếm bạn sẽ nghĩ đến nhãn hiệu phở nào trước ? Dĩ nhiên là Phở 24.

Khi bàn luận về việc marketing có tạo ra nhu cầu không (?), quan điểm hiện đại có cách tư duy rộng mở và có vẻ khá táo bạo. Cụ thể là, Pieto Guido, một nhà tư vấn marketing đã viết cuốn sách Xã hội không nhu cầu (No-need society) để chỉ ra vấn đề này. Có một hướng tư duy mới trả lời cho “xã hội không nhu cầu” – đó là tạo ra nhu cầu mới. Theo ông Akio của tập đoàn Sony :“Chúng ta không phục vụ thị trường, chúng ta tạo ra các thị trường.” Còn Greg Carpenter và Kent Nakamoto đã thẳng thắn bác bỏ quan niệm cốt lõi của các nhà tiếp thị là khách hàng ngay từ đầu đã biết họ muốn gì. Trái lại họ sẽ học được họ muốn gì. Và nhà kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc dạy cho người mua biết họ muốn gì. Những công ty như thế không phải thuộc loại hướng về thị trường (đáp ứng nhu cầu) mà là dẫn dắt thị trường (bằng sự sáng tạo). Theo ý nghĩa này, cạnh tranh sẽ bớt đi việc chạy đua để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng mà là cuộc đua thật sự để nhận diện ra những nhu cầu đó.

Cho dù thận trọng chưa dám quả quyết như các học giả trên là “marketing tạo ra nhu cầu, chúng ta cũng thừa nhận rằng, các chuyên gia marketing ngày càng khám phá ra nhiều nhu cầu mà trước đây không ai biết hoặc chú tâm đến. Ta cũng thấy rằng, ngày nay, các công ty không chỉ thụ động đáp ứng nhu cầu sẵn có của khách hàng mà chủ động đi tìm hoặc “sáng tạo ra mong muốn và cơ hội thị trường mới” để qua đó có thể bán cái mình vừa sáng tạo ra. Các công ty nhờ có các hoạt động sáng tạo mà nhanh chóng đưa ra các sản phẩm có tính năng công nghệ mới nên đã đi trước nhu cầu, dẫn dắt nhu cầu khách hàng. Marketing dù không tạo ra nhu cầu (needs), nhưng có thể tác động rất mạnh mẽ đến mong muốn (wants). Marketing ảnh hưởng đến số cầu bằng cách tạo ra các sản phẩm thích hợp, hấp dẫn,… cho khách hàng mục tiêu; và thực tế đã có những công ty là nhà dẫn dắt thị trường.

Một minh họa đặc biệt về đi trước khám phá nhu cầu là, nhu cầu học hỏi và nghiên cứu các kiến thức hiện đại, mới mẻ của các giảng viên, sinh viên hay các nhà nghiên cứu của Việt Nam về kinh tế, quản trị,… là một nhu cầu rất lớn và có thật. Hiểu được nhu cầu đó, một nhà sách uy tín hàng đầu đất nước là nhà sách Kinh Tế Tuấn Minh đã hợp tác với hàng trăm tác giả là những người đã có nhiều năm du học và nghiên cứu ở những nước phát triển như Anh, Úc, Mỹ,… Kết quả là, nhiều đầu sách có giá trị học thuật và tính thực tiễn cao được biên soạn. Nét độc đáo của những quyển sách được nhà sách Kinh Tế Tuấn Minh phát hành không chỉ là tính hiện đại, mà còn ở chỗ, trước tiên, biết chắt lọc những lý thuyết và kiến thức hiện đại nào phù hợp và có khả năng ứng dụng vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, và kế đến, trình bày theo trật tự và hệ thống sao cho dễ đọc, dễ hiểu và đặc biệt là dễ ứng dụng đối với độc giả. Người đọc hay giới chuyên gia cần kiến thức chuyên sâu thường tìm những tựa sách mang nhãn hiệu Kinh Tế Tuấn Minh là có lý do của nó.

Các hình thức biểu hiện khác nhau của nhu cầu :

Nhu cầu được phát biểu (a stated need) : đối tượng công khai bày tỏ các mong muốn của người tiêu dùng với chuyên gia marketing.

Nhu cầu không được phát biểu (unstated need) : đối tượng không công khai bày tỏ các mong muốn.

Nhu cầu thực (real need) : đối tượng thật sự quan tâm đến những lợi ích thiết thực từ sản phẩm.

Nhu cầu thích thú (delight need) : đối tượng thật sự thích thú với những lợi ích và dịch vụ phụ thêm ngoài thỏa thuận ở hình thức khuyến mãi.

Nhu cầu bí mật (secret need) : đối tượng muốn người khác đánh giá cao bản thân thông qua việc sử dụng sản phẩm.

Khi nhu cầu phát sinh, mong muốn sẽ xuất hiện và chính mong muốn sẽ kéo theo động cơ (motive) làm một việc gì đó để thỏa mãn nhu cầu.

Mong muốn (wants) :

Mong muốn (hay ước muốn) (wants) là hình thức của nhu cầu ở mức độ sâu hơn và cụ thể hơn. Mong muốn là cụ thể hóa của nhu cầu. Nói đến mong muốn nào đó là nói đến một đối tượng cụ thể để thỏa mãn nhu cầu có được mong muốn đó. Mong muốn được hình thành bởi đoàn thể và xã hội của các cá nhân, bởi văn hóa và tính cách cá nhân. Nhu cầu con người thì khá giống nhau nhưng mong muốn của từng người lại vô cùng khác biệt và điều đó tạo nên sự đa dạng cho cuộc sống. Sự khác biệt đó là do tính cách, văn hóa, lối sống, kinh nghiệm,… của mỗi người khác nhau.

Các nhà marketing cần biến nhu cầu thành mong muốn và phải khám phá ra mong muốn đang tiềm ẩn trong con người khách hàng :

Mọi người đều phải đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại bằng cách mua sản phẩm. Bằng cách tập trung vào lợi ích của những sản phẩm này, hoạt động marketing hiệu quả sẽ biến nhu cầu thành mong muốn.

Thí dụ như, đói là một nhu cầu tự nhiên; và để thỏa mãn cái đói người ta cần thức ăn, nhưng ăn cái gì và như thế nào lại do các yếu tố xã hội, văn hóa hay tính cách của khách hàng quyết định. Nhu cầu này được đáp ứng bằng nhiều cách khác nhau : người thì muốn ăn cơm, người muốn ăn phở, người thì muốn bánh mì hay hoành thánh,… Cùng là ăn cơm, nhưng người thì muốn ăn cơm bụi bình dân, người lại muốn vào nhà hàng sang trọng. Như vậy, nhà kinh doanh ăn uống phải biết tạo ra vô vàn các loại thực phẩm khác nhau, cách thức phục vụ khác nhau để phục vụ nhu cầu đa dạng của mọi người. Cùng là nhu cầu thông tin, người thì dùng iPhone, người thì dùng nhãn hiệu Nokia hay Samsung, người thì dùng nhắn tin kết hợp với điện thoại thẻ.

Một kết luận hữu ích được rút ra từ các thí dụ trên là : nhu cầu tự nhiên phản ánh sự đòi hỏi về một chủng loại sản phẩm, mong muốn phản ánh sự đòi hỏi cao hơn về một dạng cụ thể (thông số, đặc tính,…) của chủng loại sản phẩm đó.

Người tiêu dùng cần trao đổi thông tin. Nhưng để biến nhu cầu này thành mong muốn đối với những loại hình truyền thông nhất định đòi hỏi phải có kỹ năng. Ngoài ra, việc này đòi hỏi công ty phải lắng nghe mong muốn của người tiêu dùng. Thí dụ như, hiện nay, nhu cầu của khách hàng về điện thoại di động có vẻ như vô hạn, đặc biệt với sự phát triển của những trang mạng xã hội đang mang lại cho các công ty vô số cơ hội. Các sản phẩm mới liên tục xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu này, ví dụ như các dịch vụ băng thông rộng không dây ngày càng phổ biến, mà mọi công ty viễn thông di động đều tung ra thị trường. Mặc dù khách hàng sử dụng điện thoại di động và các thiết bị kết nối Internet phần đông là những người thường phải đi công tác nhưng các công ty Internet băng thông rộng của Việt Nam như FPT, VNPT, Viettel lại đang nhắm đến việc thu hút thị trường số đông tham gia mạng xã hội. Các công ty này cung cấp các gói dịch vụ linh hoạt, tính năng mới và mức phí thấp hơn.

Tuy nhiên, khám phá ra mong muốn của khách hàng không phải là một việc dễ dàng, vì nhiều khi ngay cả bản thân khách hàng cũng không hiểu mình mong muốn gì; do vậy chuyên gia marketing cần phải gợi mở các mong muốn đang tiềm ẩn trong con người khách hàng. Ai cũng muốn được tôn trọng và tự tin. Nhưng trước đó không ai biết là muốn tự tin thì phải dùng kem đánh răng “Close-up” hay phải nhai kẹo cao su để “tập thể dục mặt”. Bằng các sản phẩm này, các công ty đã giúp khách hàng có được phong thái ung dung và tự tin.

Lưu ý là, khám phá ra mong muốn của khách hàng tuy cần thiết nhưng đối với marketing, khám phá ra mong muốn có khả năng thanh toán còn quan trọng hơn gấp bội. Sản phẩm làm ra là để bán chứ chẳng phải là thứ để cho không. Mong muốn có khả năng thanh toán chính là số cầu mà ta xem xét tiếp sau đây.

Số cầu [1] (hay còn gọi là cầu, lượng cầu) :

Người tiêu dùng khi lựa chọn hàng hóa phải cân nhắc tới khả năng mua (thanh toán). Mong muốn của con người thì vô hạn nhưng nguồn lực lại hữu hạn, khả năng thanh toán có giới hạn. Vì vậy, con người sẽ lựa chọn những sản phẩm nào thỏa mãn tốt nhất mong muốn của họ dựa trên khả năng thanh toán.

Số cầu là những mong muốn có được các sản phẩm cụ thể được đảm bảo bằng khả năng thanh toán và thái độ sẵn sàng mua chúng. Ngắn gọn hơn, số cầu là mong muốn có khả năng thanh toán.

Như vậy, số cầu chính là sức mua cụ thể của hàng hóa, dịch vụ, là biểu hiện cụ thể của việc thỏa mãn mong muốn thông qua việc tiêu thụ sản phẩm đó.

Sự khác biệt giữa hai thuật ngữ nhu cầu và số cầu : Nhu cầu chỉ dừng lại trong tâm thức còn số cầu thể hiện sự sẵn sàng hành động để thỏa mãn do có động lực và có khả năng thanh toán. Khác với nhu cầu chỉ mang tính chất tâm sinh lý tự nhiên, số cầu là một khái niệm kinh tế và có thể lượng hóa được.

Số cầu là một dấu hiệu chỉ báo hết sức hữu ích trong hoạt động bán hàng và marketing, trong việc dự trữ và cung ứng hàng hóa, là căn cứ đáng tin cậy để xây dựng và thực hiện các chiến lược, chiến thuật marketing. Kết quả là, công ty giờ đây không còn phải chất đầy trong kho lượng hàng hóa khổng lồ bất chấp tình hình tiêu thụ đang thuận lợi hay khó khăn. Do dự báo trước được đòi hỏi của thị trường nên chỉ cần dự trữ lượng hàng hóa đủ để đáp ứng được những đòi hỏi ấy; giải quyết được vấn nạn tồn đọng, tồn kho.

Xét về tính hiện hữu hay có sẵn trên thị trường, số cầu có ba loại chính :

Cầu hiện hữu (existing demand) : là loại cầu hiện tại khách hàng đang có và đang được thỏa mãn trên thị trường.

Cầu tiềm ẩn (latent demand) : là loại cầu hiện khách hàng cũng chưa biết và chưa được nhận ra trước đó, cũng chưa được đáp ứng bởi nhà cung cấp, sẽ chuyển thành cầu hiện hữu nếu sản phẩm được tung ra thị trường với các phối thức marketing thích hợp.

Cầu phôi thai (incipient demand) : là loại cầu chưa được xác định, sẽ xuất hiện nếu xu hướng kinh tế – xã hội vẫn tiếp diễn như hiện tại. Thí dụ, người ta sẽ chuyển sang dùng xe máy cá nhân nếu thuế đánh vào xe hơi tiếp tục tăng lên, tiền bảo hiểm, bảo trì và thuê mướn gara lại tăng lên; tình trạng kẹt xe không được cải thiện mà càng ngày càng tồi tệ hơn ở các thành phố lớn ở Việt Nam.

Hitesh Bhasin đã nghiên cứu một cách cẩn thận và chỉ ra 8 loại cầu khác nhau trong marketing. Phát hiện của Hitesh Bhasin là công cụ để dự báo mà các chuyên gia marketing muốn biết trước các đòi hỏi của thị trường không thể bỏ qua.

Hộp 1.3 : Minh họa phân loại : Các trạng thái của cầu hay số cầu. 

Cầu âm (negative demand) : Là cầu trong thị trường mà phần lớn khách hàng không thích sự mời chào. Sản phẩm có thể hữu dụng, nhưng khách hàng không màng tới, thậm chí thà chịu tốn chi phí để tránh khỏi phải dùng sản phẩm, thí dụ như : nha chu để phòng ngừa sâu răng, tiêm chủng ngừa để tránh nhiễm bệnh cơ hội, cắt amidan tránh viêm họng và hô hấp, bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro, phẫu thuật kế hoạch hóa gia đình,… Nhiệm vụ của marketing là nghiên cứu nguyên nhân vì sao khách hàng không thích sản phẩm. Trên cơ sở đó cần phải thiết kế lại 4 thành tố của phối thức marketing – mix để thu hút khách hàng.

Cầu bằng không (no demand) : Là cầu khi khách hàng mục tiêu hầu như không quan tâm đến sản phẩm được mời chào, thí dụ như : các khóa học giáo dục, các lớp tập huấn môi trường,… Trong trường hợp này, nhiệm vụ của marketing là thông qua các chương trình xúc tiến để làm cho khách hàng thấy được rằng sản phẩm sẽ đáp ứng nhu cầu nào đó của họ.

Cầu tiềm ẩn (latent demand) : Là cầu chưa được thỏa mãn và chưa được nhận ra, thí dụ như : điện thoại thông thường đối nghịch với điện thoại thông minh, xe chạy bằng xăng đối nghịch với xe chạy bằng diesel,… Lúc mua điện thoại thông thường, người ta không biết là sau này sẽ có điện thoại thông minh – smart phones. Vì người ta mong muốn nhiều thật nhiều chức năng trong smartphones nên khách hàng dù dự định mua điện thoại thông thường sau đó lại mua smart phones; mua chiếc xe thứ nhất chạy bằng xăng, nhưng mua chiếc thứ hai thì hầu như mua loại chạy bằng diesel. Trên thị trường luôn luôn có các mức cầu chưa được thỏa mãn. Nhiệm vụ của marketing là phát hiện và đánh giá quy mô của thị trường và tạo ra các sản phẩm thỏa mãn các mức cầu đó.

Cầu suy giảm (declining demand) : Là cầu đang giảm dần. Thí dụ như : cầu về sữa trẻ em ở các nước phát triển đang giảm dần do dân chúng ngày càng “lười” sinh con; khi đĩa CD và iPOD xuất hiện, cầu về máy nghe nhạc bỏ túi walkman suy giảm nghiêm trọng. Nhiệm vụ của marketing là phải xác định rõ nguyên nhân suy giảm và đề ra các chính sách, chiến lược mở rộng cầu bằng cách tìm các thị trường mục tiêu mới, hoặc thay đổi các nội dung của 4 thành tố trong phối thức marketing mix.

Cầu không đều theo thời gian (irregular demand) : Đó là cầu thay đổi theo thời gian (giờ trong ngày, ngày trong tuần, tuần trong tháng, tháng trong năm). Cầu không ổn định làm cho tổ chức lúc thì dư thừa khả năng cung cấp, lúc thì quá tải công việc. Thí dụ điển hình là các sản phẩm có tính chất thời vụ : dù, áo mưa, máy lạnh, resorts,… Hay cầu đối với các dịch vụ bưu chính viễn thông thuộc loại không đều theo thời gian. Nhiệm vụ của marketing là tìm cách dàn đều mức cầu thông qua chiến lược giá linh hoạt, chiến lược xúc tiến và các chính sách khuyến mãi khác.

Cầu đầy đủ (full demand) : Là mức cầu khi tổ chức hài lòng với lượng cầu đang có. Nhiệm vụ của marketing là duy trì mức độ cầu hiện có nhằm phòng tránh tình huống cầu sụt giảm do cạnh tranh tăng lên cũng như sự thay đổi sở thích, thị hiếu của khách hàng. Công ty cần phải thường xuyên đo lường mức độ hài lòng của khách hàng để kịp thời điều chỉnh phối thức marketing mix.

Cầu vượt quá khả năng cung cấp (overfull demand) : Là mức cầu khi tổ chức không có khả năng đáp ứng hết cầu của thị trường. Nhiệm vụ của marketing là sử dụng các công cụ như giá cả, xúc tiến để giảm bớt cầu tạm thời hay vĩnh viễn của các phần thị trường có lợi nhuận thấp, hoặc cầu không cấp thiết. Cầu về điện hiện nay ở Việt Nam thuộc loại này. Nhà nước tính giá điện theo kiểu lũy tiến để hạn chế người tiêu dùng sử dụng nhiều. Đồng thời Nhà nước tăng cường việc tuyên truyền dân chúng sử dụng điện tiết kiệm.

Cầu không lành mạnh (unwholesome demand) : Là cầu đối với những sản phẩm độc hại cho sức khỏe của người sử dụng (thuốc lá, rượu, bia, game, ma túy…). Cầu không lành mạnh hoàn toàn trái ngược với cầu âm (negative demand) : Với cầu âm, sản phẩm có ích nhưng khách hàng vẫn làm ngơ; với cầu không lành mạnh (unwholesome demand), sản phẩm dù độc hại, có kẻ vẫn hăm hở lao vào. Nhiệm vụ của marketing là làm giảm cầu bằng các chiến lược xúc tiến, giá cả và hạn chế nguồn cung.

Qua xem xét 8 mức độ của cầu và nhiệm vụ của marketing trên đây, chúng ta thấy marketing có vai trò quản trị cầu bằng các chính sách khác nhau.

Từ định nghĩa số cầu, có cụm từ “mong muốn có khả năng thanh toán”. Tại sao chuyên gia marketing quan tâm đến “mong muốn có khả năng thanh toán” ? Đơn giản vì họ muốn biết được số lượng người trên thị trường có khả năng chi trả và sẵn sàng mua chúng.

Nghiên cứu mong muốn có khả năng thanh toán được coi là vấn đề cơ bản và quan trọng của hoạt động marketing. Điều này cũng phù hợp với mục tiêu của công ty là lợi nhuận. Nếu ta mô tả một sản phẩm nào đó và một mong muốn nào đó thành các vòng tròn thì khả năng thỏa mãn mong muốn được diễn tả bằng mức độ mà vòng tròn sản phẩm che phủ vòng tròn mong muốn.

Mong muốn có khả năng thanh toán là mong muốn phù hợp với khả năng tài chính của khách hàng. Nếu không có gì trở ngại đối với hành vi mua, như chưa có sẵn để bán, bán không đúng lúc, đúng chỗ… thì mong muốn có khả năng thanh toán sẽ chuyển thành quyết định mua. Mong muốn có khả năng thanh toán còn được các nhà kinh tế gọi là cầu của thị trường (market demand).

10

Có thể nói, nếu công ty chăm sóc khách hàng tốt thì sẽ loại bỏ nhiều trở ngại, rào cản đối với hành vi mua và giúp khách hàng chuyển từ mong muốn có khả năng thanh toán thành quyết định mua.

Mong muốn có khả năng thanh toán là điều mà công ty cần quan tâm trước hết, vì đây chính là cơ hội kinh doanh cần phải nắm bắt và đáp ứng kịp thời. Cơ hội kinh doanh không dành cho riêng ai. Trong điều kiện thị trường Việt Nam ngày càng được tự do hóa, thì mong muốn có khả năng thanh toán chưa được thỏa mãn sẽ kích thích các đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường.

Thị trường hàng hóa tiêu dùng Việt Nam hiện nay còn hằng hà sa số các mong muốn có khả năng thanh toán nhưng chưa được thỏa mãn. Đây chính là cơ hội lớn cho các nhà kinh doanh và không chỉ là cơ hội kinh doanh riêng có của một công ty Việt Nam nào. Nếu công ty nào không đáp ứng nhanh chóng các mong muốn đó, thì các đối thủ cạnh tranh sẵn sàng thay thế. Đối với thị trường Việt Nam, khả năng thanh toán là vấn đề rất quan trọng. Do vậy, giá cả sản phẩm phải vừa túi tiền của người tiêu dùng. Có thể thấy rằng, mặc dầu nhiều loại hàng hóa Trung Quốc làm ẩu, làm dối, chất lượng chưa cao, nếu không muốn nói là chất lượng kém, nhưng vẫn được khách hàng Việt Nam mua dùng. Lý do cơ bản là giá cả các hàng hóa đó vừa với túi tiền của đông đảo khách hàng Việt Nam, đặc biệt là ở nông thôn.

[1]Số cầu cũng là một khái niệm mà marketing vay mượn của kinh tế học.

(Còn tiếp : Nếu có nhiều bạn đọc quan tâm, chúng tôi sẽ đăng liên tục mấy chục bài viết về marketing theo cách tiếp cận hiện đại nhất ngày nay là marketing mối quan hệ và quản trị quan hệ khách hàng để phục vụ bạn đọc).

Cảm ơn đất nước này là lòng mẹ đã cưu mang chúng tôi nên chúng tôi lập ra trang web này là để đăng tải nhiều bài viết học thuật phục vụ hoàn toàn miễn phí cho việc nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên và việc học tập của sinh viên. Nếu sau khi đọc xong thấy bổ ích, các bạn hãy đặt đường dẫn (link) đến hai website : nhà sách trên mạng Kinh Tế Tuấn Minh : Trang Chủ – Kinh Tế Tuấn Minh tài liệu sách Kinh Tế Tuấn Minh : Lưu Đan Thọ – Tri thức là không giới hạn để nhiều người được biết và cùng nhau xây dựng một xã hội học tập.

TB : Trang web này hầu như ngày nào cũng có bài viết mới giàu tính học thuật được post lên để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu. Chúng tôi sẽ cố gắng để tranh thủ thời gian tối đa.

Tham khảo mục lục chi tiết hay đề cương chi tiết một số môn học marketing và quản trị dưới đây.

Mục lục chi tiết sách “Marketing mối quan hệ và quản trị quan hệ khách hàng – Lý thuyết và tình huống thực hành ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, Lượng Văn Quốc, NXB Tài Chính, năm 2016.

Đề cương chi tiết sách Marketing dịch vụ từ sách “Marketing dịch vụ hiện đại – Lý thuyết và tình huống thực hành ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, Tôn Thất Hoàng Hải, Cao Minh Nhựt, NXB Tài Chính, năm 2016.

Mục lục sách “Quản trị dịch vụ – Lý thuyết và tình huống thực hành ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, Vương Quốc Duy, Trần Hữu Ái, Lượng Văn Quốc, NXB Tài Chính, năm 2016.