Tổng quan về thương mại điện tử phần 2

(Trích từ sách Thương mại điện tử hiện đại – Lý thuyết và tình huống ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, Tôn Thất Hoàng Hải, nhà xuất bản Tài Chính, năm 2016. Chúng tôi đăng tuần tự nhiều phần trong nhiều chương của quyển sách Thương mại điện tử hiện đại này thành nhiều kỳ để bạn đọc nắm được bức tranh toàn cảnh cũng như toàn bộ nội dung môn học thương mại điện tử này sẽ được triển khai như thế nào.)

I. Thương mại điện tử (Electronic commerce – EC) là gì ?

Thương mại điện tử là một khái niệm dùng để mô tả quá trình giao dịch mua bán sản phẩm, dịch vụ và thông tin qua mạng máy tính, chủ yếu là Internet. Thương mại điện tử còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như :“thương mại trực tuyến online trade”, “thương mại không giấy tờpaperless commerce”, hay “kinh doanh điện tử (e-business)”. Dù được hiểu lẫn lộn và sử dụng thay thế cho nhau, “thương mại điện tử” vẫn là một tên gọi phổ biến hơn cả. Thí dụ như, một số ứng dụng trong giao dịch của EC là mua và bán cổ phiếu và vé máy bay qua mạng Internet, đang phát triển rất nhanh chóng, doanh số của nó đã vượt quá giao dịch ngoại tuyến (offline) truyền thống. Tuy nhiên, EC không chỉ đơn thuần là mua và bán, mà nó còn là phương tiện để giao dịch điện tử, chia sẻ và khám phá; nó có thể là giáo dục điện tử (e-learning), chính phủ điện tử (e-government), mạng xã hội (social networks), và… vô vàn các ứng dụng khác nữa.

1.1. Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp

Theo quan điểm hẹp, thương mại điện tử (EC) là quá trình mua, bán, chuyển giao trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin qua mạng máy tính, chủ yếu là Internet và mạng nội bộ (intranets).

Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử bắt đầu bằng việc các công ty sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa, dịch vụ của công ty mình, các giao dịch có thể giữa công ty với công ty (B2B) hoặc giữa công ty với khách hàng cá nhân (B2C), và cá nhân với nhau (C2C) v.v…

1.2. Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng

Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử là việc sử dụng các phương tiện điện tử để làm thương mại kinh doanh. Nói cách khác, thương mại điện tử là thực hiện các quy trình cơ bản và các quy trình khung cảnh của các giao dịch thương mại bằng các phương tiện điện tử, cụ thể là trên mạng máy tính và viễn thông một cách rộng rãi, ở mức độ cao nhất có thể.

Các quy trình cơ bản của một giao dịch thương mại gồm : tìm kiếm (mua gì, ở đâu,..), đánh giá (có hợp với mình không, giá cả và điều kiện ra sao,..), giao hàng, thanh toán, và xác nhận.

Các quy trình khung cảnh của một giao dịch thương mại gồm : diễn tả (mô tả hàng hóa, dịch vụ, các điều khoản của hợp đồng), hợp thức hóa (làm cho thỏa thuận là hợp pháp), uy tín và giải quyết tranh chấp. Tất nhiên có những quy trình không thể tiến hành trên mạng như việc giao hàng hóa ở dạng vật thể (máy móc, thực phẩm,…), song tất cả các quá trình của giao dịch nếu có thể thực hiện trên mạng thì đều có thể tiến hành bằng các phương tiện điện tử.

Tuy nhiên trong thực tế, khái niệm EC thường được hiểu lẫn lộn với khái niệm kinh doanh điện tử (e-business). Thuật ngữ thương mại điện tử thường được nhiều người hiểu chỉ là các giao dịch mua bán giữa các đối tác kinh doanh; họ đồng nghĩa EC với e-trade. Tuy nhiên, hiểu như vậy là quá hẹp, không chuyển tải trọn vẹn ý nghĩa của từ này. Vì thế, các chuyên gia thương mại điện tử đã dùng một khái niệm mang ý nghĩa rộng hơn là kinh doanh điện tử (e-business).

1.3. Kinh doanh điện tử (e-business)

Kinh doanh điện tử là một thuật ngữ mang ý nghĩa rộng hơn của EC, đó không chỉ là quá trình mua và bán mà còn là phục vụ khách hàng, kết nối các đối tác kinh doanh, tổ chức giáo dục và huấn luyện qua mạng cũng như thực hiện các giao dịch điện tử trong phạm vi của một tổ chức. Thương mại điện tử bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toán đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với các nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng, với các đối tác, khách hàng,… khi đó thương mại điện tử phát triển thành kinh doanh điện tử, công ty ứng dụng thương mại điện tử ở mức độ cao được gọi là công ty điện tử. Như vậy, có thể hiểu kinh doanh điện tử là mô hình phát triển của công ty khi tham gia thương mại điện tử ở mức độ cao và ứng dụng công nghệ thông tin chuyên sâu trong mọi hoạt động của công ty.

Ngày nay, kinh doanh điện tử ngày nay phải được xem xét một cách toàn diện từ “chu kỳ kinh doanh, tốc độ kinh doanh, toàn cầu hóa thị trường và toàn cầu hóa quá trình sản xuất, nâng cao năng suất, khác biệt hóa sản phẩm và dịch vụ, tiếp cận khách hàng mới, chia sẻ kiến thức giữa các tổ chức nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh” (Lou Gerstner, IBM’s CEO).

1.4. Khái niệm TMĐT [1] theo một số tổ chức quốc tế :

Theo UNCITAD (Ủy ban Liên Hiệp quốc về Thương mại và Phát triển) :

Thương mại điện tử bao gồm các hoạt động của công ty, theo chiều ngang :“TMĐT là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán (MSDP) thông qua các phương tiện điện tử”

Khái niệm này đã đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh, chứ không chỉ giới hạn ở riêng lĩnh vực mua và bán, và toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử.

Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP, trong đó :

M : Marketing (Có trang web, hoặc xúc tiến thương mại qua Internet).

S   : Sales (Có trang web có hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng).

D  : Distribution (Phân phối sản phẩm số hóa qua mạng).

P   : Payment (Thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân hàng).

Như vậy, đối với công ty, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia thương mại điện tử.

Dưới góc độ quản lý nhà nước, theo chiều dọc : thương mại điện tử bao gồm các lĩnh vực :

: Cơ sở hạ tầng cho sự phát triển TMĐT (I).

M : Thông điệp (M).

B  : Các quy tắc cơ bản (B).

S  : Các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực (S).

A : Các ứng dụng (A).

Mô hình IMBSA này đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng và phải có để phát triển TMĐT :

I : Infrastructure : Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông.

Một ví  dụ điển hình là dịch vụ Internet băng thông rộng ADSL. Tại nước ta, theo thống kê năm 2.015 của Vụ Thương mại điện tử, hơn 90% công ty đã sử dụng dịch vụ này để truy cập Internet với tốc độ đủ cao để giao dịch qua mạng. Suy cho cùng, nếu không phổ cập dịch vụ Internet thì không thể phát triển thương mại điện tử được. Chính vì vậy, UNCTAD đưa ra lĩnh vực đầu tiên cần phát triển chính là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, tạo lớp vỏ đầu tiên cho TMĐT.

M : Message : Các vấn đề liên quan đến thông điệp dữ liệu.

Thông điệp chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng, qua Internet trong thương mại điện tử. Ví dụ như hợp đồng điện tử, các chào hàng, hỏi hàng qua mạng, các chứng từ thanh toán điện tử… đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu”. Tại các nước và tại Việt Nam, những thông điệp dữ liệu khi được sử dụng trong các giao dịch TMĐT đều được thừa nhận giá trị pháp lý. Điều này được thể hiện trong các Luật mẫu của Liên Hiệp quốc về giao dịch điện tử hay Luật TMĐT của các nước, cũng như trong Luật Giao dịch điện tử của Việt Nam.

B : Basic Rules : Các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về TMĐT : Chính là các luật điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến TMĐT trong một nước hoặc khu vực và quốc tế.

Ví dụ : Ở Việt Nam hiện nay là Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ Thông tin. Trên thế giới có các Hiệp định khung về TMĐT của các khu vực như EU, ASEAN,… Hiệp định về Công nghệ thông tin của WTO, về Bảo hộ sở hữu trí tuệ, và về việc thừa nhận giá trị pháp lý khi giao dịch xuyên “biên giới” quốc gia.

S : Sectorial Rules/Specific Rules : Các quy tắc riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực chuyên sâu của TMĐT, như : chứng thực điện tử, chữ ký điện tử, ngân hàng điện tử (thanh toán điện tử). Thể hiện dưới khía cạnh pháp luật ở Việt Nam có thể là các nghị định chi tiết về từng lĩnh vực. Hay các tập quán thương mại quốc tế mới như Quy tắc về xuất trình chứng từ điện tử trong thanh toán quốc tế (e-UCP), hay quy tắc sử dụng vận đơn điện tử (của Bolero).

A : Applications : Được hiểu là các ứng dụng TMĐT, hay các mô hình kinh doanh thương mại điện tử cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển, trên cơ sở đã giải quyết được bốn vấn đề trên. Ví dụ như : Các mô hình Cổng TMĐT quốc gia (ECVN.gov), các sàn giao dịch TMĐT B2B (như Vnemart.com) cũng như các mô hình B2C (golmart.com.vn, Amazon.com), C2C (đấu giá Ebay.com), hay các website của các công ty XNK… đều được coi chung là các ứng dụng TMĐT.

 Theo EU (Liên minh châu Âu) : TMĐT bao gồm các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng các phương tiện điện tử. Nó bao gồm TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và TMĐT trực tiếp (trao đổi hàng hóa vô hình). TMĐT cũng được hiểu là hoạt động kinh doanh điện tử, bao gồm : mua bán điện tử hàng hóa, dịch vụ, giao hàng trực tiếp trên mạng với các nội dung số hóa được; chuyển tiền điện tử – EFT (electronic fund transfer); mua bán cổ phiếu điện tử – EST (electronic share trading); vận đơn điện tử – E B/L (electronic bill of lading); đấu giá thương mại – Commercial auction; hợp tác thiết kế và sản xuất; tìm kiếm các nguồn lực trực tuyến; mua sắm trực tuyến – Online procurement; marketing trực tiếp, dịch vụ khách hàng sau khi bán…

Theo OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế) :

TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hóa thông qua các mạng mở (như Internet) hoặc các mạng đóng có cổng thông với mạng mở (như AOL).

 TMĐT là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hóa và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hóa có thể mã hóa bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng.

Theo WTO :

Thương mại điện tử bao gồm việc quảng cáo, sản xuất, bán hàng, phân phối sản phẩm, được giao dịch và thanh toán trên mạng Internet, nhưng việc giao nhận có thể hữu hình hoặc giao nhận qua Internet dưới dạng số hóa.

Theo AEC (Association for Electronic Commerce) :

TMĐT là việc kinh doanh có sử dụng các công cụ điện tử. Định nghĩa này rộng, coi hầu hết các hoạt động kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những trao đổi thông tin EDI phức tạp đều là TMĐT.

Theo UNCITRAL (UN Conference for International Trade Law), Luật mẫu về Thương mại điện tử (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce) :“Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch”. Định nghĩa này giải thích tương đối đầy đủ và rõ ràng nhất.

“Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bảng tính, các bản thiết kế, hình đồ họa, quảng cáo, hỏi hàng, đơn hàng, hóa đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh…

“Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát mọi vấn đề nảy sinh từ mọi mối quan hệ mang tính thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch sau đây : bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.

Như vậy có thể thấy rằng phạm vi của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế. Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng thương mại điện tử.

Tóm lại, theo nghĩa rộng, thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, marketing trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng. Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo). Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm của con người.

Như vậy Nhà nước, khu vực tư nhân, cộng đồng những nhà chuyên môn, những người tiêu dùng – tất cả đều cho rằng thương mại điện tử là phương thức cách mạng trong việc thực hiện giao dịch thương mại ngày nay. Thương mại điện tử là một quá trình đang phát triển mạnh mẽ và tiến hóa liên tục.

Trong giáo trình này, thuật ngữ “thương mại điện tử” được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả các hoạt động kinh doanh nhằm tạo được lợi thế cạnh tranh cho các công ty trên thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay. Nghĩa là, thương mại điện tử (e-commerce) được xem như đồng nhất với kinh doanh điện tử (e-business). Tiêu chí của người viết quyển “Thương mại điện tử” này là để thực hành ứng dụng. Vì thế, phạm vi nghiên cứu của quyển sách này khá rộng, bao trùm nhiều vấn đề từ các mô hình đến các phương cách thực hành ứng dụng kinh doanh điện tử trong môi trường kinh doanh điện tử thực tế ở Việt Nam.

Mục đích của cuốn sách này là mô tả TMĐT được tiến hành và quản trị ra sao, và từ đó chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và những lợi ích, những vấn đề, những rủi ro của TMĐT. Cuốn sách này được viết dưới góc độ thực hành quản trị. TMĐT là một lĩnh vực liên ngành, vì thế mà nó cần dành được sự quan tâm của các nhà quản trị và các chuyên gia trong mọi lĩnh vực chức năng của kinh doanh. Tất cả mọi người dù đang làm việc trong lĩnh vực chính trị, giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác nữa vẫn thấy có ích khi nghiên cứu TMĐT.

Ngày nay, TMĐT và kinh doanh điện tử đang trong giai đoạn củng cố mà trong đó sự quan tâm đến công nghệ và ý tưởng mới luôn được đi kèm với sự chú ý đặc biệt về chiến lược, việc thực hiện và lợi ích. Đa số mọi người đều nhận thấy rằng kinh doanh điện tử có hai phần, nó không chỉ là về công nghệ mà còn về thương mại.

Efraim Turban và David King (2.012) đã xem xét thương mại điện tử theo nghĩa rộng là kinh doanh điện tử (e-business) dưới các góc độ như sau :

01 - Copy (6)

  • Xem xét từ mức độ shóa : Thương mại điện tử có thể thực hiện dưới nhiều hình thức phụ thuộc vào mức độ số hóa của các sản phẩm/dịch vụ mua bán, quá trình mua bán, vận chuyển và giao nhận hàng hóa. Hình 1.1. cho thấy mức độ số hóa của thương mại điện tử. Một sản phẩm có thể là sản phẩm vật chất hoặc sản phấm số hóa; một tổ chức có thể là một cơ quan cụ thể hoặc một cơ quan số hóa; và một quá trình cũng có thể là quá trình vật chất hay số hóa. Điều này tạo nên tám hình khối, mỗi hình khối có ba khía cạnh. Trong thương mại truyền thống, tất cả các khía cạnh này đều là hữu hình (Hình khối phía dưới bên trái). Trong thương mại điện tử thuần túy, tất cả các khía cạnh này đều là số hóa (Hình khối phía trên bên phải). Tất cả các hình khối còn lại đều là hỗn hợp của thương mại truyền thống và thương mại điện tử thuần túy; tùy thuộc vào mức độ số hóa của các hoạt động trong các giao dịch mà có thể xem đó là giao dịch thương mại truyền thống hay giao dịch thương mại điện tử. Chẳng hạn như, mua hàng thông qua mạng nhưng việc giao hàng lại được thực hiện bằng phương tiện vận tải truyền thống thì đó không phải là thương mại điện tử thuần túy nhưng nếu việc mua hàng, giao nhận hàng và thanh toán đều được số hóa thì đó là thương mại điện tử thuần túy.
  • Xem xét từ góc độ các lĩnh vực kinh doanh : Thương mại điện tử diễn ra ở hầu khắp các lĩnh vực kinh doanh, thúc đẩy các lĩnh vực đó phát triển đồng thời tạo nên bản sắc mới của hoạt động kinh doanh trên phạm vi nền kinh tế thế giới.
  • Từ góc độ kinh doanh viễn thông : Thương mại điện tử là việc chuyển giao thông tin, sản phẩm hay dịch vụ hoặc thanh toán thông qua điện thoại, mạng máy tính hoặc bất kỳ phương tiện điện tử nào khác.
  • Từ góc độ quy trình kinh doanh : Thương mại điện tử là việc ứng dụng công nghệ để tự động hóa các giao dịch kinh doanh và các dòng chu chuyển sản phẩm.
  • Từ góc độ kinh doanh dịch vụ : Thương mại điện tử là phương tiện để các công ty, người tiêu dùng và nhà quản trị cắt giảm chi phí dịch vụ trong khi vẫn nâng cao chất lượng hàng hóa, tăng tốc độ chuyển giao dịch vụ.
  • Từ góc độ hỗ trợ trực tuyến : Thương mại điện tử cung cấp khả năng mua và bán sản phẩm và thông tin trên Internet và dịch vụ trực tuyến khác.

II. Đặc điểm của thương mại điện tử

Thứ nhất, thương mại điện tử là một phương thức giao dịch thương mại sử dụng các phương tiện điện tử để tiến hành các giao dịch thương mại. Việc sử dụng các phương tiện điện tử cho phép các bên thực hiện các hoạt động mua, bán, chuyển giao, trao đổi các nguồn “thông tin” về sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… dễ dàng. Các nguồn “thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử như thư điện tử, thông điệp điện tử, các tập tin văn bản (text-based file), các cơ sở dữ liệu (database), các bảng tính (spreadsheet), các bản vẽ thiết kế bằng máy tính điện tử (computer-aid design : CAD), các hình đồ họa (graphical image), quảng cáo, chào hàng, hóa đơn, biểu giá, hợp đồng, hình ảnh động (flash), video clip, âm thanh, v.v… Việc trao đổi “thông tin” qua mạng máy tính và Internet giúp các bên tham gia giao dịch cung cấp, truyền tải các nội dung giao dịch và không cần phải in ra giấy trong bất kỳ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch. Ví dụ như : Trang mạng của nhà sách trên mạng Kinh Tế Tuấn Minh : Trang Chủ – Kinh Tế Tuấn Minh kinh doanh rất nhiều sản phẩm như văn phòng phẩm, băng đĩa nhạc… nhưng chủ yếu là các loại sách và hoàn toàn không có bất cứ một cửa hàng vật lý nào. Việc bán sách của công ty được thực hiện trực tiếp qua mạng Internet, hoạt động cung ứng được thực hiện trên cơ sở phối hợp trực tiếp giữa nhà sách trên mạng Kinh Tế Tuấn Minh với các nhà sách lớn mà thôi.

Thứ hai, TMĐT có liên quan mật thiết với thương mại truyền thống (TMTT), và phụ thuộc sự phát triển mạng máy tính và Internet. TMĐT có liên quan mật thiết với TMTT; các giao dịch TMĐT được thực hiện trên cơ sở các giao dịch TMTT, nhiều công việc và quá trình giao dịch thương mại điện tử có liên quan đến thương mại truyền thống. Tuy nhiên, khác với các giao dịch TMTT được tiến hành trên giấy, qua điện thoại, những người đưa tin, bằng xe tải, máy bay và các phương tiện khác, các giao dịch TMĐT chủ yếu được tiến hành trên các mạng máy tính điện tử. Vì thế, giao dịch TMĐT phụ thuộc sự phát triển mạng máy tính và Internet. Tuy nhiên, khi xây dựng các mô hình giao dịch trên mạng máy tính và Internet, một số yếu tố, chủ thể, quy trình kinh doanh trong TMTT có thể được điều chỉnh, những ưu điểm và lợi ích của CNTT được ứng dụng trong TMĐT cho phép giao dịch TMĐT linh hoạt hơn (có thể thực hiện 24/7, phản hồi nhanh chóng…) đồng thời loại bỏ những hạn chế của TMTT (cản trở vật lý, địa lý, thông tin…).

Thứ ba, TMĐT được nghiên cứu gồm bốn nhóm hoạt động chủ yếu là mua, bán, chuyển giao và trao đổi các đối tượng sản phẩm, dịch vụ và thông tin. Ngoài ra, nó còn bao gồm các hoạt động hỗ trợ các hoạt động trên như : marketing, quảng cáo, xúc tiến trên mạng, thanh toán điện tử, an toàn mạng giao dịch, đấu giá, dịch vụ hỗ trợ CNTT, hỗ trợ việc chào bán, cung cấp các dịch vụ khách hàng hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thông tin, liên lạc giữa các đối tác kinh doanh.

Thứ tư, “thương mại điện tử” là thuật ngữ mang tính lịch sử. Không thể có định nghĩa duy nhất về TMĐT bởi các công nghệ mới thường xuyên ra đời và được khai thác trong kinh doanh. Và ngay đối với những công nghệ hiện tại, chúng ta cũng chưa chắc đã khai thác và ứng dụng hết những khả năng mà nó mang lại.

Một cách chi tiết hơn so với các hoạt động thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ bản như sau :

Không cần tiếp xúc trực tiếp và biết nhau từ trước :

Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.

Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Các phương tiện viễn thông như : fax, telex,… chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch.

Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia từ các nơi xa xôi “đèo heo hút gió” đến ngay các trung tâm đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải quen biết với nhau từ trước.

Phạm vi hoạt động :

Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu). Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.

Thương mại điện tử càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ cho công ty hướng ra thị trường trên khắp thế giới. Với thương mại điện tử, một doanh nhân Việt Nam dù mới thành lập công ty đã có thể kinh doanh và có ngay khách hàng ở Nhật Bản, Đức và Chi Lê…, mà không cần phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia bắt buộc phải mất nhiều năm.

Chủ thể tham gia :

Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực.

Trong thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môi trường cho các giao dịch thương mại điện tử. Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện tử.

Hệ thống thông tin trong thương mại điện tử là thị trường :

Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường. Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình thành. Ví dụ : các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhà trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính.

Các trang web khá nổi tiếng như Yahoo ! America Online hay Google đóng vai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng. Các trang web này đã trở thành các “khu chợ” khổng lồ trên Internet. Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào hàng ngàn các cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao. Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây được coi là khó bán trên mạng. Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn là phải đi tới tận cửa hàng. Một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng, tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet) rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình. Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng.

Ngay cả chủ của các cửa hàng bình thường nhỏ của Việt Nam ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tin lên web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên web bằng cách mở ra các cửa hàng ảo.

Về hình thức giao dịch :

Giao dịch thương mại điện tử hoàn toàn có thể thực hiện qua mạng. Thương mại điện tử không thể hiện các văn bản giao dịch trên giấy (paperless transactions). Tất cả các văn bản đều có thể thực hiện bằng các dữ liệu tin học, các băng ghi âm, hay các phương tiện điện tử khác. Đặc trưng này làm thay đổi căn bản văn hóa giao dịch bởi lẽ độ tin cậy không còn phụ thuộc vào cam kết bằng giấy tờ mà bằng niềm tin lẫn nhau giữa các đối tác. Giao dịch không dùng giấy cũng làm giảm đáng kể chi phí và nhân lực để chu chuyển, lưu trữ và tìm kiếm các văn bản khi cần thiết. Người sử dụng thông tin có thể tìm kiếm ngay trong ngân hàng dữ liệu của mình mà không cần người khác tham gia nên bảo vệ được bí mật ý tưởng và cách thức thực hiện ý đồ kinh doanh. Giao dịch không dùng giấy đòi hỏi kỹ thuật bảo đảm an ninh và an toàn dữ liệu mới. Đó là an ninh và an toàn trong giao dịch thương mại điện tử.

Thương mại điện tử gắn liền với sự phát triển của ICT :

Thương mại điện tử phụ thuộc công nghệ và trình độ công nghệ thông tin của người sử dụng. Để phát triển thương mại điện tử cần phải xây dựng và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ thông qua phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật của thương mại điện tử như mạng máy tính và khả năng tiếp nối qua mạng với các cơ sở dữ liệu thông tin toàn cầu. Cùng với cơ sở mạng, thương mại điện tử cần có đội ngũ nhân viên không chỉ thành thạo về công nghệ mà còn có kiến thức và kỹ năng về thương mại nói chung, và marketing nói riêng.

Thương mại điện tử phụ thuộc vào mức độ số hóa (thương mại số hóa) :

Tùy thuộc vào mức độ số hóa của nền kinh tế và khả năng hội nhập số hóa với nền kinh tế toàn cầu mà thương mại điện tử có thể đạt được các cấp độ từ thấp đến cao. Cấp độ thấp nhất là sử dụng thư điện tử, sau đó sử dụng Internet để tìm kiếm thông tin mà đặt hàng trực tuyến và dịch vụ trực tuyến, tiếp đến là xây dụng các website cho hoạt động kinh doanh và cuối cùng là áp dụng các giải pháp toàn diện về thương mại điện tử (thương mại điện tử thuần túy).

Thương mại điện tử có tốc độ nhanh chóng :

Nhờ áp dụng kỹ thuật số nên tất cả các bước của quá trình giao dịch đều được tiến hành thông qua mạng máy tính. Ngôn ngữ của công nghệ thông tin cũng cho phép rút ngắn độ dài của các “văn bản” giao dịch. Các dịch vụ phần mềm ngày càng hoàn hảo, tốc độ đường truyền nhanh, các phương tiện điện tử có khả năng tự động hóa cao cho phép rút ngắn thời gian soạn thảo, giao tiếp và ký kết các văn bản giao dịch điện tử. Tất cả những điều này đã làm cho thương mại điện tử đạt tốc độ nhanh nhất trong các phương thức giao dịch, tạo nên tính cách mạng trong giao dịch thương mại.

Nền kinh tế Internet và thương mại điện tử

Bảng 1.1 : Các đặc điểm chính của nền kinh tế điện tử.
Phạm vi (Area) Mô tả (Description)
·  Toàn cầu

(Globalization)

Hợp tác và giao dịch toàn cầu, cạnh tranh và thị trường điện tử (trực tuyến) toàn cầu.
·  Hệ thống số (Digital system) Từ hệ thống TV, điện thoại, các thiết bị analog được chuyển đổi sang hệ thống số.
·  Tốc độ (Speed) Nhờ vào các tài liệu, sản phẩm, dịch vụ số, các giao dịch xảy ra gần như đồng thời (real-time).
·  Việc tải thông tin xuống từ mạng và tìm kiếm thông minh (Information overload & intelligent search) Mặc dù số lượng thông tin rất đa dạng và phong phú nhưng nhờ vào các công cụ dò tìm thông minh giúp cho người dùng có thể tìm được những thông tin gì mình cần.
·  Thị trường Thị trường ngày càng hướng đến trực tuyến, thay thế cho thị trường hữu hình truyền thống. Các thị trường mới đang xuất hiện, làm gia tăng sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
·  Việc số hóa

(Digitization)

Âm nhạc, sách vở, hình ảnh, videos là các sản phẩm được số hóa nhanh hơn và việc phân phối ngày càng rẻ hơn.
·     Phương thức và mô hình kinh doanh (Business models & processes) Các mô hình và phương thức kinh doanh mới ngày càng được hoàn thiện đã tạo cơ hội cho tất cả các công ty, đặc biệt là các công ty nhỏ và các ngành nghề.
·  Sự cải tiến (Innovation) Sự cải tiến số hóa dựa trên nền tảng Internet đang tiếp tục phát triển với tốc độ nhanh chóng. Chưa bao giờ bằng phát minh sáng chế được cấp nhiều như bây giờ.
·     Sự lỗi thời nhanh (Obsolescence) Vì phát minh được sáng tạo ra quá nhanh nên tỷ lệ các thứ lỗi thời ngày càng nhanh hơn.
·  Các tổ chức Các tổ chức ngày càng trở thành các tổ chức số hóa dựa trên nền tảng Internet.
·  Cơ hội Cơ hội đến với tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống và hoạt động kinh doanh.
·  Chiến tranh Chuyển từ cục bộ sang chiến tranh mạng (cyberwars).

Nền kinh tế Internet có khái niệm rộng hơn so với TMĐT và KDĐT. Nó bao gồm cả TMĐT và KDĐT và các yếu tố khác. Có bốn lớp của nền kinh tế Internet :

Lớp hạ tầng Internet : Người chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật cho xây dựng nền kinh tế Internet bao gồm các công ty cung cấp phần cứng, phần mềm, thiết bị mạng Internet.

Lớp hạ tầng ứng dụng Internet : Người xây dựng hạ tầng ứng dụng hạ tầng Internet (phần mềm hỗ trợ giao dịch qua web, thiết kế web, dịch vụ tư vấn).

Lớp trung gian Internet : Người cung cấp hạ tầng hỗ trợ và tạo điều kiện hạ tầng thương mại Internet (Liên kết người mua, người bán, cung cấp nội dung trang web, tạo thị trường mạng).

Lớp thương mại Internet : Bán, mua sản phẩm dịch vụ giữa : công ty-công ty-người tiêu dùng (các công ty dot.com). Đây là lớp cao nhất của nền kinh tế Internet, các công ty khai thác ba lớp cấp dưới để thực hiện giao dịch thương mại.

HƯỚNG DẪN TÌM KIẾM NỘI DUNG TRÊN MẠNG :

Đây là các kiến thức học thuật nên chúng tôi bắt buộc phải đặt tên các đề mục trong sách theo chuẩn mực (nghĩa là các thuật ngữ có tên gọi khá hàn lâm) và cách dùng của các sách giáo khoa trên thế giới. Vì thế, khi vào trang web của nhà sách kinh tế trên mạng Kinh Tế Tuấn Minh : Trang Chủ – Kinh Tế Tuấn Minh hay trước khi gõ từ khóa tìm kiếm trong Google, bạn hãy tìm đề cương chi tiết trong các quyển sách của chúng tôi khi tìm tài liệu sách kinh tế Tuấn Minh : Lưu Đan Thọ – Tri thức là không giới hạn thì mới tìm được. Các bạn đọc, đặc biệt là các bạn sinh viên mới lần đầu tiếp xúc với môn học đừng quên chỉ dẫn quan trọng này. Vì đó là cách thức tốt nhất và hệ thống nhất để các bạn tìm kiếm.

Lưu ý là, để tìm nội dung các bài viết các bạn hãy vào trang web : Lưu Đan Thọ – Tri thức là không giới hạn sau đó bạn tìm đề cương chi tiết sách marketing hiện đại hay đề cương chi tiết môn học marketing hiện đại; bạn tìm đề cương chi tiết sách marketing dịch vụ hiện đại hay đề cương chi tiết môn học marketing dịch vụ hiện đại; bạn tìm đề cương chi tiết sách quản trị vận hành hiện đại hay đề cương chi tiết môn học quản trị vận hành hiện đại,… Rồi bạn tìm các mục trong đề cương chi tiết của các môn học thì sẽ tìm được nội dung môn học mà bạn muốn tìm.

Thí dụ như, bạn muốn tìm nội dung môn học “Thương mại điện tử”, bạn phải gõ từ khóa theo mục lục đã được đưa lên ở trang web kinhtetuanminh.vn thì mới tìm được nội dung mà chúng tôi giới thiệu với các bạn. Bởi vì chúng tôi đưa lên mạng theo các mục từ ở đề cương chi tiết này.

Một lưu ý khác là, các quyển sách của chúng tôi thường có thêm hai từ hiện đại sau tên môn học. Vì thế để tìm, bạn hãy gõ thêm từ hiện đại sau tên môn học. Thí dụ thay vì gõ marketing, bạn hãy gõ marketing hiện đại; thay vì gõ quản trị marketing, bạn hãy gõ quản trị marketing hiện đại; thay vì gõ marketing dịch vụ, bạn hãy gõ marketing dịch vụ hiện đại; thay vì gõ quản trị vận hành, bạn hãy gõ quản trị vận hành hiện đại; thay vì gõ quản trị dịch vụ, bạn hãy gõ quản trị dịch vụ hiện đại; thay vì gõ quản trị marketing, bạn hãy gõ quản trị marketing hiện đại… thì sẽ bạn sẽ tìm được nội dung trong sách của chúng tôi từ trang web của chúng tôi trên Google.

Trang web này hầu như ngày nào cũng có bài viết mới giàu tính học thuật được post lên để phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu. Chúng tôi tranh thủ thời gian tối đa.

Nên nhớ là, để tìm nội dung các bài viết các bạn hãy vào trang web : Lưu Đan Thọ – Tri thức là không giới hạn sau đó bạn tìm đề cương chi tiết sách marketing hiện đại hay đề cương chi tiết môn học marketing hiện đại; bạn tìm đề cương chi tiết sách marketing dịch vụ hiện đại hay đề cương chi tiết môn học marketing dịch vụ hiện đại; bạn tìm đề cương chi tiết sách marketing quản trị vận hành hiện đại hay đề cương chi tiết môn học quản trị vận hành hiện đại,… Rồi bạn tìm các mục trong đề cương chi tiết của các môn học thì sẽ tìm được nội dung môn học mà bạn muốn tìm.

Cảm ơn đất nước này là lòng mẹ đã cưu mang chúng tôi nên chúng tôi lập ra trang web này là để đăng tải nhiều bài viết học thuật phục vụ hoàn toàn miễn phí cho việc nghiên cứu, giảng dạy của giảng viên và việc học tập của sinh viên. Nếu sau khi đọc xong thấy bổ ích, các bạn hãy đặt đường dẫn (link) đến hai website : nhà sách trên mạng Kinh Tế Tuấn Minh và tài liệu sách Kinh Tế Tuấn Minh để nhiều người được biết và cùng nhau xây dựng một xã hội học tập.

Chân thành cảm ơn bạn đọc đã quan tâm và giới thiệu cho nhiều người cùng tìm đọc để phổ biến kiến thức và tìm kiếm trong biển rộng bao la của kiến thức.

[1] Trong giáo trình này, chúng tôi thường xuyên dùng các chữ viết tắt là EC hay TMĐT để chỉ thương mại điện tử.

Tham khảo mục chi tiết hay đề cương chi tiết một số môn học marketing và quản trị dưới đây.

Mục lục chi tiết sách Marketing căn bản từ sách “Marketing hiện đại – Lý thuyết và tình huống thực hành ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, NXB Tài Chính, năm 2016.

Mục lục sách “Quản trị dịch vụ – Lý thuyết và tình huống thực hành ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, Vương Quốc Duy, Trần Hữu Ái, Lượng Văn Quốc, NXB Tài Chính, năm 2016.

Đề cương chi tiết môn “Marketing dịch vụ hiện đại – Lý thuyết và tình huống thực hành ứng dụng của các công ty Việt Nam”, Lưu Đan Thọ, Tôn Thất Hoàng Hải, Cao Minh Nhựt, NXB Tài Chính, năm 2015.